Thi 2 trong 1 và những ràng buộc khiến tuyển sinh ĐH kéo dài, mất chủ động?

Sau hơn 10 năm thực hiện kỳ thi 2 trong 1, khi kết quả thi vừa để xét tốt nghiệp vừa để xét tuyển ĐH, lãnh đạo các trường ĐH chia sẻ về những ưu điểm, hạn chế và đưa ra đề xuất để tuyển sinh ĐH thuận lợi hơn.

Hạn chế lớn nhất của mô hình “2 trong 1” 

Thạc sĩ Trịnh Hữu Chung, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Gia Định, nhận định: "Có thể nói kỳ thi 2 trong 1 lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2015 là một bước cải tiến lớn. Thay vì thí sinh phải tham gia nhiều kỳ thi gồm thi tốt nghiệp THPT và thi ĐH ở vài trường khác nhau, thì một kỳ thi duy nhất đã giúp giảm áp lực xã hội, giảm áp lực cho thí sinh, phụ huynh và cho cả các trường ĐH, tiết kiệm chi phí".

Kết quả của kỳ thi này vừa dùng để xét tốt nghiệp vừa hình thành được cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ tuyển sinh ĐH. Thí sinh chỉ cần thi một kỳ thi là có thể đăng ký vào nhiều trường ĐH khác nhau rất thuận tiện.

Thi 2 trong 1, xét tuyển chung khiến tuyển sinh ĐH kéo dài, mất chủ động? - Ảnh 1.

Trước năm 2015, thí sinh phải tham gia 2 kỳ thi gồm thi tốt nghiệp THPT riêng và thi ĐH, CĐ riêng. 11 năm qua thí sinh tham dự 1 kỳ thi vừa để xét tốt nghiệp vừa để xét ĐH

ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Anh, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, cũng cho biết kỳ thi 2 trong 1 đã cho thấy những lợi ích khá rõ. Trước năm 2015, học sinh phải trải qua kỳ: thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh ĐH, CĐ rất gần nhau. Việc gộp hai kỳ thi đã góp phần giảm đáng kể áp lực thi cử cho học sinh, giảm chi phí đi lại, tổ chức cho gia đình và xã hội.

"Một lợi ích quan trọng khác là kết quả của một kỳ thi chung tạo ra mặt bằng đánh giá tương đối thống nhất trên phạm vi cả nước. Các trường ĐH có thể sử dụng kết quả này như một nguồn dữ liệu tuyển sinh mà không phải đồng loạt tổ chức các kỳ thi riêng".

Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của mô hình “2 trong 1” chính là một kỳ thi phải phục vụ 2 mục tiêu có bản chất khác nhau. Thi tốt nghiệp nhằm xác định học sinh có đạt chuẩn đầu ra của chương trình phổ thông hay không, trong khi tuyển sinh ĐH cần khả năng phân loại thí sinh, nhất là với những trường và ngành có mức độ cạnh tranh cao. Vì vậy, việc thiết kế một đề thi vừa phù hợp để xét tốt nghiệp, vừa đủ sức phân hóa phục vụ tuyển sinh là bài toán không dễ.

Thạc sĩ Chung cũng cho rằng một kỳ thi phục vụ 2 mục tiêu hoàn toàn khác nhau đã gây ra nhiều bất cập. "Xét tuyển ĐH là quá trình phân loại để chọn lọc người học đúng phân khúc, đúng năng lực, trong khi kỳ thi tốt nghiệp không thể đáp ứng được mục tiêu này vì thi tốt nghiệp là để đánh giá chuẩn đầu ra bậc phổ thông. Nếu đề thi dễ thì không đủ sự phân hóa để có thể xét tuyển ĐH, trong khi đề khó lại ảnh hưởng đến xét tốt nghiệp", thạc sĩ Chung đánh giá.

Theo thạc sĩ Chung, các trường ĐH đào tạo những ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, tiêu chí đánh giá khác nhau, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động khác nhau nên việc sử dụng một kết quả kỳ thi này để xét tuyển khiến tuyển sinh rất lúng túng. Điều đó cũng dẫn đến tình huống cùng là một ngành mà trường này điểm chuẩn cao vọt, trường kia thấp ngang sàn, trong đó các trường ở khu vực phía bắc đa số điểm cao hơn hẳn phía nam.

"Bên cạnh đó, sau 10 năm thực hiện thi 2 trong 1, tại một số trường tốp trên có thể có tình trạng điểm chuẩn cao chót vót nhưng chất lượng học tập của sinh viên giảm đi so với thời kỳ thi tốt nghiệp riêng, ĐH riêng. Điều này hoàn toàn dễ hiểu vì đề thi tốt nghiệp không thể đáp ứng cùng lúc 2 mục tiêu, chưa kể có năm đề dễ có năm đề khó nên chất lượng đầu vào sẽ không đồng đều", thạc sĩ Trịnh Hữu Chung nhìn nhận.

Đừng đặt quá nhiều mục tiêu lên kỳ thi tốt nghiệp THPT

Chính vì kết quả thi tốt nghiệp THPT khó phản ánh được năng lực đặc thù của từng nhóm ngành, khó đáp ứng được nhu cầu đánh giá của các trường nên mới phát sinh các phương thức xét kết quả kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, xét học bạ, chứng chỉ quốc tế...

Thế nhưng thời gian qua, nhiều ý kiến cho rằng xét tuyển học bạ không có tính chuẩn xác, chính vì vậy Bộ GD-ĐT cũng "siết" lại việc xét tuyển sớm. Vậy qua những gian lận động trời ở Hà Giang (cũ) năm 2018 và Tuyên Quang mới đây, lãnh đạo một trường ĐH tại TP.HCM đặt câu hỏi: liệu xét bằng điểm thi tốt nghiệp THPT có chuẩn xác hơn?

Từ vụ gian lận ở Tuyên Quang, có ý kiến cho rằng nên tách 2 kỳ thi như trước năm 2015 để các trường ĐH có thể tổ chức tuyển chọn thí sinh có năng lực thực sự.

Tuy nhiên, thạc sĩ Trịnh Hữu Chung phân tích: "Việc gian lận của 2 địa phương trên xuất phát từ âm mưu có tổ chức, hoàn toàn là do ý thức của con người. Nếu vì thế mà tách kỳ thi 2 trong một thành kỳ thi tốt nghiệp riêng, thi ĐH riêng như trước đây, liệu có chắc chắn gian lận sẽ không xảy ra? ".

Ông Chung cho rằng không nên quay trở lại mô hình 2 kỳ thi hoàn toàn độc lập như trước năm 2015. Nhưng cũng không nên kỳ vọng kỳ thi tốt nghiệp có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu tuyển sinh của mọi trường ĐH.

"Theo tôi, giải pháp hợp lý nhất là kỳ thi tốt nghiệp THPT vẫn giữ vai trò đánh giá chuẩn đầu ra phổ thông, bảo đảm chất lượng giáo dục phổ thông trên phạm vi cả nước. Các trường ĐH được phát huy quyền tự chủ, sử dụng kết quả kỳ thi này như một căn cứ tuyển sinh hoặc kết hợp với các phương thức khác phù hợp với đặc thù ngành đào tạo".

Đối với những ngành có tính cạnh tranh cao hoặc yêu cầu năng lực chuyên biệt, cần khuyến khích các trường tổ chức thêm các hình thức đánh giá riêng. Như vậy, kỳ thi quốc gia vẫn phát huy được giá trị nền tảng, trong khi hệ thống tuyển sinh ĐH có đủ sự linh hoạt để lựa chọn đúng người học.

"Đây là hướng đi cân bằng giữa mục tiêu quản lý nhà nước, quyền tự chủ ĐH và giảm áp lực cho người học, đồng thời phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục ĐH hiện nay", thạc sĩ Chung nhận định.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Anh cho rằng sau hơn 10 năm, bối cảnh tuyển sinh ĐH cũng đã thay đổi rất nhiều. Các trường hiện có nhiều công cụ tuyển sinh hơn như kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, kết quả học tập THPT, chứng chỉ quốc tế và các phương thức kết hợp.

"Vì vậy, theo tôi, vấn đề hiện nay không nên chỉ đặt thành lựa chọn gộp hay tách. Nếu quay trở lại 2 kỳ thi như trước năm 2015, áp lực và chi phí xã hội có thể gia tăng. Nhưng nếu tiếp tục mô hình hiện nay thì cũng không nên đặt quá nhiều nhiệm vụ lên kỳ thi tốt nghiệp THPT. Kỳ thi này nên tập trung vào mục tiêu chính là đánh giá kết quả giáo dục phổ thông; còn các trường ĐH, trong khuôn khổ tự chủ, có thể sử dụng kết quả này hoặc lựa chọn thêm những công cụ phù hợp để tuyển được thí sinh đáp ứng yêu cầu đào tạo", tiến sĩ Quốc Anh chia sẻ.

Thi 2 trong 1 khiến thí sinh đợi 2 tháng mới biết kết quả ĐH

Lãnh đạo một trường ĐH tại TP.HCM, bày tỏ: "Với những quy định hiện tại, có thể nói tuyển sinh ĐH đang bị phụ thuộc quá nhiều vào kỳ thi tốt nghiệp THPT. Các trường bị trói buộc không thể chủ động trong tuyển sinh, cả về thời gian lẫn những quy định. Thí sinh thi xong phải đợi 2 tháng sau mới biết kết quả ĐH vì quy trình xét tuyển chung vô cùng phức tạp với những rắc rối trong quá trình lọc ảo".

Vị lãnh đạo nói thêm: "Dường như Bộ GD-ĐT càng ngày càng thực hiện những công việc đáng lẽ là của trường ĐH khiến các trường lúng túng. Bộ cũng muốn tuyển sinh ĐH ngày càng phụ thuộc vào kỳ thi tốt nghiệp THPT, như ràng buộc về nguồn tuyển, khi thí sinh phải đạt 15 điểm 3 môn tại kỳ thi tốt nghiệp THPT mới được xét tuyển ĐH..." 

Theo vị lãnh đạo này, Bộ có thể vẫn giữ kỳ thi 2 trong 1 nhưng không cần "lo đủ thứ" cho các trường, chỉ cần đưa ra những quy định chung sau đó kiểm tra, giám sát và phạt thật nặng đối với trường nào làm sai. 

"Còn lại, hãy để các trường tự chủ thực sự trong tuyển sinh. Chất lượng tuyển sinh và đào tạo hãy để các trường tự chịu trách nhiệm", vị lãnh đạo đề xuất.

Bạn không thể gửi bình luận liên tục. Xin hãy đợi
60 giây nữa.